Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012
Vài cảm nhận khi đọc
“TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU” của Cao Xuyên.*
Tôi đã từng là một “nông phu”, vì vậy đọc tập thơ của một “nông dân”, tôi thấy một chút gần gũi. Dù vậy qua tập thơ này tôi lại thấy chất “Sỹ phu” ngời lên trong từng ý thơ…Và tôi có 3 nguyên tắc thầm nhăc chính mình trong câu chuyện thơ này:
Một là: không xoa bóp tác giả như những cách thường gặp đâu đó trên tạp chí, sách báo lâu nay vì như thế với tính cách “sỹ phu” tác giả sẽ không cho phép, nên tôi quyết không như vậy, không bị câu thúc bởi bất cứ lý do gì, vì bợ đở phỉnh nịnh không khác một kẻ xài bạc giả -như một tác giả nào đó đã nói.
Hai không khen tác phẩm, bởi nhà thơ Trụ Vũ đã khen trong lời giới thiệu ở đầu sách, một lẻ khác tôi xin dẫn ra đây lời của một thi sỹ đời Tống-Lý Chi Lai” Ở đời có 3 việc đáng tiếc: Thứ nhất lớp thanh niên ưu tú bị hư hỏng bởi một chế độ giáo dục sai lầm; thứ 2 những cánh trà ngon bị hao phí quá nhiều vì những bàn tay bất tài vày vò; thứ 3 : Những tuyệt tác bị mất giá trị bởi những kẻ phàm phu tục tử tán thưởng…Mà tôi thì cũng chẳng khác gì đám phàm phu tục tử kia nên không dám khen láo.
Ba là phê bình ( ở một nghĩa nào đó) tôi không đủ vốn liếng chữ nghĩa và kỹ thuật để chẻ sợi tóc làm tư làm tám như các nhà chuyên môn vì vậy coi như tôi không làm điều này…
Ở đây tôi chỉ nói lên vài chút đồng cảm với tác giả trong một số tứ thơ mà thôi. Chắc trong chúng ta không ít người đã đọc: “ Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ…”( ta có một tấc lòng không biết ngỏ cùng ai) của cụ Tiên Điền, ở đây Cao Xuyên cũng thế không biết ngỏ cùng ai nên “ngỏ” bằng thơ- tôi nghĩ như thế, nhưng như mọi người đều biết ngoài chức năng “ minh đạo, tải đạo…”Thơ còn có một chức năng rất dễ thương là làm cầu…thật vậy nhà thơ Trần Ninh Hồ đã viết như thế này:
“ Thơ là chiếc cầu bơ vơ
“ Mà nghìn năm vẩn ngóng chờ người sang…”
Theo tôi nghĩ nó đúng với rất nhiều trường hợp là những bài thơ được sinh ra bởi những nhà thơ chân chính hay nói một cách hoa mỹ là “ có kim bản vị..”Thật vậy các tác phẩm đều muốn tận hiến, đều muốn làm một chiếc cầu nối liền đôi bờ thương mến giữa thơ - người thơ và người đọc thơ, người thơ luôn mong ngóng có người đi sang, được phục vụ vô điều kiện, ôi những bài thơ, những người thơ thật đáng yêu biết bao!, khi mỗi câu thơ là tâm tình hiến dâng ( Thơ Tagore) và tôi nghĩ Cao Xuyên cũng không ngoại lệ cũng muốn làm chiếc cầu nối đôi bờ đơn chiếc. Tập thơ “ Từ Vầng trăng mười sáu” dễ thương này ta có thể đọc xong trong bao lâu là tùy mỗi người, có thể đọc xong tập thơ trong vài chục phút, vài tiếng, vài ngày …hay vài tháng, nói theo từ ngữ chuyên môn là trong nó có chứa một hàm lượng thơ lớn và một khía cạnh nào đó nó cũng không dành cho đám đông, vì nó thường có double code (song mã), về hình thức cấu trúc bốn(4) câu có lẻ không mới so với thơ truyền thống, nhưng nội hàm nếu qui chiếu với trào lưu “hậu hiện đại” nó vẩn có phần…
Ta thử đọc một số bài trong 81 bài 4 câu:
-Giọt mồ hôi An Tiêm
Thắng trùng trùng bão tố
Giọt mồ hôi An Tiêm
Nhịp cầu dưa hấu đỏ.
Thật vậy giọt mồ hôi mặn chát của gã nông phu An Tiêm, hay giọt mồ hôi chát mặn của Hoàng tử An Tiêm khuất phục trùng trùng bão tố…hay chiến thắng chính mình để những quả dưa “xanh vỏ đỏ lòng” làm nhịp cầu thơm thảo nối đôi bờ tin yêu thương mến.
Thơ với ai đó có thể là một phương tiện hoặc họ đặt để cho thơ một cứu cánh nào đó, nhưng với Cao Xuyên tôi nghĩ trong đời sống của anh và từ “ Vầng trăng 16” không ít lần”ngả lòng” anh phải vịn câu thơ mà đứng dậy ( Thơ Phùng Quán), song ta vẩn thấy toát lên cái lạc quan nhi nhiên của tác giả: “ Ông nông dân thi sỹ.
Ngồi viết bài thơ tình
Chữ sặc mùi rơm rạ
Mà sao hồn long lanh.”
Như thể ta thấy tác giả không dụng công làm thơ vì thiên nhiên đã là thơ rồi:
“Sẳn bài ca chim hót
Sẳn làn hương hoa ngát
Sẳn niềm yêu tôi khóc
Và thế giới đăng trình”
Đôi khi ta có cảm giác Cao Xuyên lấy thơ ra từ túi áo ngực trái, hoặc lấy ra tự đất trời không chút dụng công:” Những đốm lữa trên cành
Hoa lựu gởi về anh
Ồ chùm thơ nắng Hạ
Thơm thảo chút duyên lành.”
Hoặc:
“ Cành khô trắng cánh cò
Chiều sông lạnh câu hò
Bác tiều phu xuống núi
Thế là thành thơ cho.”
Và ở đây ta thấy được một nông thôn Việt Nam dầy tính ảnh viện và tính thơ:
“Sương lưng lưng bờ dậu
Chiều tàn trên đọt cau
Dáng gầy cô thôn nữ
-về muộn tóc cài sao”, thật là một khuôn hình đẹp và sang trọng biết bao, một khuôn hình mà nhà chụp ảnh nào cũng ao ước. Từ ngạc nhiên này đến cái dễ thương khác…nhưng cũng rất “triệt nghĩa” Thiền: “ Quì gối giữa Phật đường
Lạy Ông Phật dễ thương
Như ngàn năm vẩn lạy,
Mùi hoa cau trong vườn.”. Với người thơ, ông Phật – Vị Đạo sư tót vời của cõi Trời cõi Người ( Theo thế giới quan Phật giáo) kia thực sự là vị cha lành chung bốn loại ( Hóa sanh, thai sanh, noãn sanh và thấp sanh)…và đức Phật gần gũi biết bao nhiêu, tự nhiên như mùi hoa cau trong vườn, tác giả đã vượt qua biên kiến tôn giáo, ý thức hệ…:
“ Em là con Thiên Chúa
Anh là con Phật Đà
Mình kết hôn đi nhé
Phật-Chúa thành sui gia.”, cũng ở đây mỗi người gặp lại chính mình trong thơ Cao Xuyên hình ảnh thân thuộc xưa cũ và thoáng chút đạo vị:
“ Ngồi đóng đinh quán cũ
Phố phơi đầy xác Thu
Guốc phơi dòn kỹ niệm
Thoáng ba ngàn kỳ khu”
Hoặc:
“Tiền kiếp nào xa xuôi
Em về trả nợ tôi
Cái nợ tình lắt léo
Trả là vay mất rồi.”
Như bao nhiêu người Thơ khác, Cao xuyên cũng dành một thời lượng lớn cho lao động thơ, suy tư thơ về tình yêu lứa đôi, thoạt đọc ta sẽ bật cười cho sự dối trá đáng yêu này”
“ Chẳng có ai thất tình
Tình yêu làm sao mất “
Và Cao Xuyên lại tự dỗ dành mình:
“Nó ẩn trong tim mình
Để nuôi bền nhịp đập”. Mà đúng vậy những thứ người đời cho là “được” và “mất” đó chỉ là sự đắp đổi và tình yêu chân thành sẽ lặn sâu vào tim mình làm cho ta vững vàng hơn, nuôi bền trong ta tình yêu cuộc sống…
Ở một góc khác chúng ta gặp trong thơ Cao Xuyên sự bùng cháy thôi thúc còn ẩn chứa trong trái tim mình câu hỏi:- Ta về đâu?!
“ Hai mươi năm đất cũ
Chìm trong chuyện đời thường
Thoáng EM về một tối
Bỗng thấy mình- Tha hương”, đại từ EM ở đây là một thứ Double code rất thú vị… Tuy nhiên ta thấy tác giả cũng điêu linh như bao đôi lứa khác”
“ Hạt lệ thằng chăn trâu
Rơi xuống thành mưa ngâu
Giờ đã là tháng bảy
Mưa đầy trời – Em đâu?”
Hoặc:
“ Có cơn mưa trái mùa
Rạc rài qua phố nhỏ
Có cuộc tình trái gió
Khiến lòng ai trở trời”
Hay:
“ Cô sơn nữ vai gầy
Gùi sương hồng xuống phố
Má cô tương ánh hồng
Sõi ven đường nín thở”
Sõi bên dường nín thở hay người thơ nín thở ?.
Qua 81 bài thơ, tác giả đặc biệt dành sự cảm thông và kính trọng cho những “mẫu thân”-(chữ của thi sỹ Bùi Giáng). Người phụ nữ qua thơ anh là sự kính trọng, trân trọng, cảm thông và yêu thương…, những người ấy là Mẹ, là Chị, là Vợ, là người yêu, là những người Em mà Cao Xuyên thương yêu quí trọng thật lòng chứ không phải chỉ bằng khẩu hiệu của những ngày lể về phụ nữ. Tác giả thấu thị được sự yêu thương vô bờ của những người Mẹ Việt Nam đầy thương kính trong tình tự dân tộc không biên kiến về ý thức hệ qua cuộc chiến tranh:
“ Ngoài kia chiều tím ngắt
Mẹ thắp hương bàn thờ
Đứa nón sắt – nón cối
Thêm một ngày bơ vơ.” Mẹ lại một lần nữa lo cho linh hồn những đứa con của mình bơ vơ, mà không biết là chính mình đang bơ vơ vì những đứa con của 2 chiến tuyến đã mất đi vì chiến tranh…và Cao Xuyên cũng cho chúng ta thấy cái vỹ đại của Mẹ ở một góc khác:
“ Chỉ một túp chùa cỏ
Đuốc Tuệ làm linh thiêng
Chỉ một vành nôi nhỏ
MẸ cho con Thiên đường.”. Ôi! Với tình yêu rộng lớn, Mẹ trở thành người có pháp thuật và quyền thuật dễ thương…
Thuở còn nằm nôi ( dụng cụ bằng tre này đã mất dần trong thế kỷ 21) ai trong chúng ta không nghe câu ca Mẹ hát: “ Đói lòng ăn nữa trái sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương…”và hình ảnh này lại một lần nữa Cao Xuyên đã đưa chúng ta tới một khung trời thật cảm động khiến ta nín thở vì xúc động bởi sự chân thành:
“ Lại về đồi sim cũ
Nữa trái cho no thèm
Nữa trái đặt lên mộ
Dâng hồn em khôn thiêng” Ở đây ta thấy bóng dáng của nhà thơ Hữu Loan, với đồi sim cũ và người vợ vắn số..có thể Cao Xuyên thay lời Hữu Loan chăng…?
Lẫn trong những xúc cảm lãng mạng, ta còn nhận thấy ý thức công dân hay ý thức của một “ sỹ phu” trong tác giả: nhất là với những những cuộc đời luân lạc bất hạnh, Cao Xuyên dành cho họ sự cảm thông rất mực:
“ Lấy Hiếu để làm trinh
Kiều ơi! Em đã chọn
Mười lăm năm điêu linh
Đóa ưu đàm nở rạng”
( Theo truyền thuyết Phật Giáo: hoa Ưu đàm ba ngàn năm mới nở một lần)
Và:
“ Nguyễn Du đưa em về
Em bây giờ rất Việt
Lấp lánh hồn sao Khuê…”
Hoặc người phụ nữ ở bến Tầm Dương của xứ Trung Hoa xưa cũ kia:
“ Trong thinh lặng hồn mình
Bỗng cồn lên tiếng sóng
Tiếng xé lụa Tầm Dương
Nghìn xưa còn đồng vọng”
Hay những thân phận hồng nhan đa truân ở thế kỹ 21 của xứ sở mình:
“ Vứt em vào luân lạc
Chưa kịp dấu yêu đầu
Thương cỏ đồng hoa nội
Son phấn- hãi hùng đau…”
Xuyên suốt 81 bài thơ, một pháp số mà có lẽ tác giả đã dụng công không ít…ta còn thấy hình ảnh hoa cau như một loại quốc hoa tượng trưng cho sự gắn kết thủy chung thân thuôc với đại đa số người Việt Nam mà anh hay nhắc tới: “Như ngàn năm vẩn lạy. Mùi hoa cau trong vườn.” hay “ Chiều tàn trên đọt cau…”. Đây có lẽ là một ám ảnh lớn của tác giả?.
Cổ kim hình như các tác giả lớn thường cố gắng chỉ ra cái “thường” và “ vô thường” của nhân sinh, theo như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thì: - Nghệ thuật nào cũng vậy, nó sẽ chẳng là gì nếu nó không góp phần truyền đến con người ta sự sống đang sôi động ngoài kia về cái “đang là” buộc họ tìm đến ý nghĩa của cuộc sống đang sôi động đó, để xác định vị trí của mình và bật lên câu hỏi: “ Ta là ai?...
Qua : Từ vầng trăng mười sáu dù là tụng ca, bi ca, hay bình ca…ta đều thấy mầm sống mạnh mẽ nhú lên từ cay nghiệt cuộc đời, và về đâu? Luôn ẩn chứa giữa 2 giòng chữ::
“ Khô lạnh như ngọn giáo
Tháp chàm vươn lên trời
Hồn chàm vươn đá sõi
Hoa xương rồng nở tươi”
Hoặc:
“ Tiền kiếp nào xa xuôi
Em về trả nợ tôi
Cái nợ tình lắt léo
Trả là vay mất rồi”
Và:
“ Kẻ đến còn ngập ngừng
Người đi chừng tiếc nuối
Tình chia ngã ba sông
Con đò nào chết đuối”
Hay:
“Từ tiếng khóc chào đời
Đến nấm mộ im hơi
Ba vạn sáu dâu biển
Thơ mãi là thơ thôi”
Thơ chỉ mãi là thơ thôi, và chúng ta cứ đuổi mãi đến vô cùng…có chăng …mua vui cũng được một vài trống canh( Kiều-Nguyễn Du). Tác giả lại dùng đại từ ngôi thứ hai: EM để xâu chuỗi suy tư mình : “Lệ nồng mặn em ơi!
Đêm đêm lần tràng lệ
Tụng câu thơ nụ cười
Và sẽ chẳng là gì nếu như sự tận hiến của người thơ không xao động một chút trên mặt hồ yên lặng của sự kiêu ngạo và vô tâm:
“Coi như là trớt quớt
Bài thơ viết bao đêm
Bao lửa lòng đã đốt
Chẳng nhen hồng má em.”
Với góc nhìn của một độc giả “sính” thơ, ghi ra vài cảm nhận, dù sai dù đúng thì cũng là tấc lòng dù tấc lòng cạn cợt không thấu đáo bao nhiêu sự đời, sự người, sự thơ…! Xin cám ơn tác giả đã cho tôi được đọc một tập thơ gợi mở nhiều chiều kích cuộc sống và sang trọng
( không phải sang trọng về hình thức)
Tân thành, Trọng Xuân Nhâm Thìn 2012
NGUYỄN VĂN BIÊN
* Tập thơ TỪ VẦNG TRĂNG MƯỜI SÁU – Cao Xuyên NXB Thanh niên 2012
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét